Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
VĂN HOÁ ĐỌC TRONG THỜI ĐẠI SỐ
2. VĂN 10, KT CUỐI KÌ I 2023-2024

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:09' 25-03-2024
Dung lượng: 40.0 KB
Số lượt tải: 27
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:09' 25-03-2024
Dung lượng: 40.0 KB
Số lượt tải: 27
Số lượt thích:
0 người
SỞ GD & ĐT THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN KỶ
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I NĂM HỌC 2023 - 2024
MÔN: NGỮ VĂN, LỚP 10
Thời gian làm bài: 90 phút, không tính thời gian phát đề
I. MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA
- Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình môn
Ngữ văn lớp 10.
- Đề kiểm tra bao quát một số nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình Ngữ
văn 10 theo các nội dung Đọc hiểu và Làm văn, với mục đích đánh giá năng lực đọc – hiểu và
tạo lập văn bản của HS thông qua hình thức kiểm tra tự luận.
- Cụ thể, đề kiểm tra nhằm đánh giá trình độ học sinh theo các chuẩn sau:
Kiến thức đọc – hiểu một văn bản, kĩ năng làm bài văn nghị luận.
II. HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA
- Hình thức : tự luận.
- Cách tổ chức kiểm tra: Học sinh làm bài trong 90 phút
III. THIẾT LẬP MA TRẬN
MA TRẬN, BẢNG ĐẶC TẢ VÀ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
MÔN NGỮ VĂN – LỚP 10
TT
1
2
Kĩ
năng
Đọc
hiểu
Viết
Nội dung/đơn vị kĩ
năng
Truyện hiện đại
Viết văn bản nghị
luận phân tích, đánh
giá tác phẩm truyện
Tỉ lệ điểm từng loại câu hỏi
Tỉ lệ điểm các mức độ nhận thức
Tổng % điểm
Nhận
biết
(Số câu)
TN
TL
KQ
0
3
0
1*
0
30 0% 30
%
%
30%
40%
70%
0
0%
1*
Mức độ nhận thức
Thông
Vận
hiểu
dụng
(Số câu)
(Số câu)
TN
TN
TL
TL
KQ
KQ
0
3
0
1
0
1*
Vận
dụng cao
(Số câu)
TN
TL
KQ
0
1
0
Tổng
%
điểm
60
1
40
10
0
10
%
%
20%
10%
30%
100
IV. BẢNG ĐẶC TẢ KĨ THUẬT ĐỀ KIỂM TRA.
TT
1
Kĩ
năng
Đơn vị
kiến
thức/Kĩ
năng
1. Đọc Truyện
hiểu
.
Mức độ đánh giá
Số câu hỏi theo mức độ nhận
thức
Nhận Thông
Vận
Vận
biết
hiểu
Dụng
dụng
cao
Nhận biết:
3 câu
1 câu 1 câu
- Nhận biết lời kể, ngôi kể, lời
TL
Tl
TL
người kể chuyện và lời nhân vật.
- Nhận biết đề tài, không gian, thời
gian, chi tiết tiêu biểu trong truyện.
- Nhận biết được những đặc điểm
của nhân vật, cốt truyện, câu
chuyện trong tác phẩm truyện.
- Nhận biết được bối cảnh lịch sử văn hóa được thể hiện trong văn
bản truyện.
Thông hiểu:
- Tóm tắt được cốt truyện và lí giải
được ý nghĩa, tác dụng của cốt
truyện.
- Phân tích được các chi tiết tiêu
biểu, đề tài, câu chuyện và lí giải
được mối quan hệ giữa các yếu tố
này trong tính chỉnh thể của tác
phẩm.
- Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của
việc lựa chọn lời kể, ngôi kể, điểm
nhìn trong tác phẩm.
- Phân tích, đánh giá được đặc điểm
của nhân vật và vai trò của nhân vật
trong tác phẩm.
- Xác định được chủ đề, tư tưởng
của tác phẩm; chỉ ra được những
căn cứ để xác định chủ đề, tư tưởng
của tác phẩm.
- Phát hiện và lí giải các giá trị đạo
đức, văn hóa từ văn bản.
- Giải thích được ý nghĩa, tác dụng
của các biện pháp nghệ thuật xây
dựng nhân vật.
Vận dụng:
- Rút ra được bài học về cách nghĩ,
cách ứng xử do văn bản gợi ra.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động
của tác phẩm đối với tình cảm,
quan niệm, cách nghĩ của bản thân
trước một vấn đề đặt ra trong đời
sống hoặc văn học.
2
Viết
Vận dụng cao:
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử - văn hoá được thể
hiện trong văn bản để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của văn bản.
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
thông điệp, chi tiết, hình tượng,
những đặc sắc về nghệ thuật trong
tác phẩm theo quan niệm của cá
nhân.
- Liên hệ để thấy một số điểm gần
gũi về nội dung giữa các tác phẩm
truyện thuộc những nền văn học
khác nhau.
Viết văn Nhận biết:
1*
bản
- Giới thiệu được đầy đủ thông tin
nghị
chính về tên tác phẩm, tác giả, thể
luận
loại,… của tác phẩm.
đánh giá - Trình bày được những nội dung
tác
khái quát của tác phẩm văn học.
phẩm
Thông hiểu:
truyện. - Triển khai vấn đề nghị luận thành
những luận điểm phù hợp. Phân
tích được những đặc sắc về nội
dung, hình thức nghệ thuật và chủ
đề của tác phẩm.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng
để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi
luận điểm.
- Đảm bảo cấu trúc của một văn
bản nghị luận; đảm bảo chuẩn
chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
- Nêu được những bài học rút ra từ
tác phẩm.
- Thể hiện được sự đồng tình /
không đồng tình với thông điệp của
tác giả (thể hiện trong tác phẩm).
Vận dụng cao:
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
nội dung và hình thức tác phẩm.
- Thể hiện rõ quan điểm, cá tính
trong bài viết; sáng tạo trong cách
diễn đạt.
V. BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA
1*
1*
1
câuTL
SỞ GD&ĐT THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN KỶ
ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I - NĂM HỌC 2023-2024
MÔN: NGỮ VĂN 10
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
BÁT PHỞ
Bạn có bao giờ, khi đang ngồi trong một hàng phở, và đặt ra câu hỏi: có gì lạ với bát
phở của người kế bên mình? Ông chủ quán - đứng giữa hai cái bếp than rừng rực cháy, hai
cái nồi nước sùng sục sôi và chỉ có mỗi cái khăn cháo lòng vắt vai để vuốt đi những lượt mồ
hôi nhễ nhại - hẳn sẽ nổi xung lên. Cũng nước phở sóng sánh. Bánh cũng mềm, thơm, đảm bảo
không formon. Thịt bò vừa chín tới. Thêm vài giọt chanh vắt vào. Hành chần tới độ, không
hăng mà vẫn giòn, ngọt. Có làm đến trăm bát, đảm bảo bát nào chất lượng cũng giống nhau
hết, không ai thiệt hơn ai.
Vậy sao tôi vẫn không kìm được mình, để khỏi nhìn sang bát phở bên cạnh. Hai cậu học
trò gầy guộc, khuôn mặt hơi ngơ ngác. Một trắng xanh, một ngăm ngăm đen. Bên cạnh mỗi
cậu là một người cha. Họ lặng lẽ ăn, trong khi những người cha lặng lẽ ngồi đốt thuốc, mắt lơ
đãng nhìn ra phố xá. […]
Hai người cha hẹn nhau ngày mốt, lúc thi xong thì cùng đến chỗ ấy, chỗ kia để về quê.
Hóa ra, họ đang đưa hai con lên Hà Nội thi đại học. Ngày mai, kỳ thi bắt đầu. Hẹn xong, họ
cùng đứng lên. Rồi đi xuôi xuống phố, qua quán phở, chỗ tôi đang ngồi ăn. Bỗng nhiên, đoàn
bốn người ấy dừng lại. Phân vân. Người cha hỏi con điều gì đó. Rồi hai ông bố trao đổi với
nhau. Mất chừng vài phút.
Và họ cùng quay lại chỗ quán phở. Ngồi xuống chiếc bàn nhựa cập kênh, kế bên tôi.
Thằng nhỏ chạy bàn đi tới, lạch xạch lau vài ba đường trên cái mặt bàn xin xỉn, nhờn mỡ,
đoạn hỏi: “Bác ăn gì?” Cả bốn người họ nhìn sang tôi, nhìn sang những bàn khác, rồi tần
ngần nhìn tới nhìn lui cái biển ghi trên cửa quán.
“Phở bò nhé? Tái hay chín?”, “Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé?”
Hai cậu con nhè nhẹ gật đầu: “Vâng, gì cũng được”. “Thế thì cho hai phở bò chín. Hai
trứng”
Thằng nhỏ chạy bàn vo cái khăn trong tay, tần ngần nhìn bốn người, ý chừng như
muốn hỏi: “Sao bốn người mà chỉ có hai bát?”
Nó chạy ra chỗ ông chủ quán, chỏng lỏn: “Hai bò!”
Ông chủ quán lăn cái khăn màu cháo lòng qua vuông mặt đỏ lựng vì lửa than, rồi vắt
trả cái khăn về bên vai, tay dao tay thớt nhoay nhoáy. Trong tích tắc, hai bát phở sóng sánh
được bê ra, đặt trịnh trọng trên bàn.
“Chúng mày ăn đi!”. Một trong hai người cha lên tiếng. Đoạn hai ông kéo xích cái ghế
ra ngoài một chút, thì thầm nói chuyện với nhau. Đại loại ba cái chuyện mùa màng, bò đẻ, vải
thiều sụt giá... Rồi tới nữa là chuyện phòng trọ trên này sao đắt chi mà đắt. Sáng mốt ngủ dậy,
mình phải trả phòng luôn, không là họ tính thêm một ngày nữa. Mình đợi chúng nó ngoài
phòng thi, thi xong thì ra bến xe về luôn. Cần thì mua mấy tấm bánh mì, lên xe ăn tạm. Về đến
quê rồi, chúng nó thích ăn gì, tha hồ ăn. Chứ trên này, chậc... chậc. […]
Trong khi ấy, hai cậu con vẫn cặm cụi với bát phở của mình. Chúng không nói gì.
Không cả dám khen một câu đại loại: “Phở ở đây ngon quá”. Hàng phở này ngon thật. Tôi
vốn rành ăn phở, những quán thế này không thật nhiều. Nhưng vì sao chúng không hồ hởi mà
thốt ra một câu như thế?
Và tôi, không kìm nén được mình, cứ hướng sang phía bốn con người ấy. Bốn con
người ngồi lặng một góc giữa cái quán ồn ã. Người cha sẽ đợi những đứa con của mình ăn
đến tận thìa nước cuối cùng, rồi lẳng lặng moi cái ví bằng vải bông chần màu lam cất trong
ngực áo ra. Ông sẽ phải đếm một lúc những tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn để sao cho
đủ ba mươi nghìn đồng, trả cho hai bát phở. Ông - một tích tắc nào đó - dẫu có bị quyến rũ
bởi cái mùi nước phở đang cất lên ngào ngạt kia, cũng chỉ dám nuốt nước miếng mà thôi. Sẽ
là một đĩa cơm suất ven đường, ít thịt, nhiều rau, xin thêm miếng cháy cho chắc dạ. Cũng vào
cỡ năm, bảy nghìn đồng chứ ít ỏi gì.
Hai cậu con trai lặng lẽ bên những người cha. Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi
ví của cha. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Những kỳ thi, những
nẻo đường còn ngổn ngang phía trước...
(Phong Điệp, Kẻ dự phần, Nhà xuất bản Văn học, 2008, tr.43,44)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Bối cảnh của câu chuyện diễn ra trong không gian nào?
Câu 3. (0,5 điểm) Ở đoạn đầu câu chuyện, món phở được người kể chuyện miêu tả như thế
nào?
Câu 4. (1,0 điểm) Theo bạn, tại sao hai cậu con trai không nói gì khi ăn phở?
Câu 5. (1,0 điểm) Việc hai người cha trả những đồng tiền lẻ cho thấy tình cảnh gì ở họ?
Câu 6. (1,0 điểm) Bạn hiểu như thế nào về chi tiết sau:“Ông - một tích tắc nào đó - dẫu có bị
quyến rũ bởi cái mùi nước phở đang cất lên ngào ngạt kia, cũng chỉ dám nuốt nước miếng mà
thôi”.
Câu 7. (1,0 điểm) Nếu bạn là người con trong câu chuyện trên, bạn sẽ suy nghĩ và hành động
như thế nào khi thấy người cha không ăn phở? Vì sao?
Câu 8. (0,5 điểm) Qua đoạn trích trên, bạn hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa với bản thân.
II.LÀM VĂN (4,0 điểm)
Viết một bài luận (khoảng 500 - 800 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật
đoạn trích Bát phở của nhà văn Phong Điệp (được dẫn ở trên).
........................................Hết.......................................
Học sinh không được sử dụng tài liệu, giám thị không giải thích gì thêm.
Phong Điệp là một cây bút trẻ với sức sáng tạo dồi dào của văn học Việt Nam đương đại. Nhà văn Phong
Điệp sinh ngày 6 tháng 6 năm 1976 tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Phong Điệp viết văn từ rất sớm,
thành công trên nhiều thể loại, trong đó nổi bật nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết, xuất bản hơn 30 đầu sách
(trong và ngoài nước). Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Phong Điệp phải kể đến như Khi ta hai mươi
(tập truyện ngắn), Kẻ dự phần (tập truyện ngắn), Blogger (tiểu thuyết), Ga kí ức (tiểu thuyết),…
SỞ GD & ĐT THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN KỶ
KIỂM TRA CUỐI KÌ I NĂM HỌC 2023 - 2024
MÔN: NGỮ VĂN, LỚP 10
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
MÔN NGỮ VĂN, LỚP 10
Phần Câu
I
1
2
3
4
5
6
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỂU
6.0
Ngôi kể thứ nhất.
Hướng dẫn chấm:
- HS trả lời như đáp án (0,5 điểm)
- HS trả lời sai hoặc không trả lời (0,0 điểm)
Không gian: quán phở.
Hướng dẫn chấm:
- HS trả lời như đáp án (0,5 điểm)
- HS trả lời sai hoặc không trả lời (0,0 điểm)
Món phở được miêu tả: nước phở sóng sánh. Bánh cũng mềm,
thơm, đảm bảo không formon. Thịt bò vừa chín tới. Thêm vài giọt
chanh vắt vào. Hành chần tới độ, không hăng mà vẫn giòn, ngọt.
Hướng dẫn chấm:
- HS trả lời như đáp án (0,5 điểm)
- HS trả lời sai hoặc không trả lời (0,0 điểm)
Hai người con không nói gì khi ăn phở, vì:
- Hai người con đang trong hoàn cảnh đói bụng, thưởng thức hương
vị thơm ngon của món phở;
- Đồng thời, hai người con còn thương cha, không dám nói điều gì.
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời như đáp án hoặc sử dụng từ ngữ tương đương hoặc diễn
đạt khác nhưng thuyết phục, phù hợp (1,0 điểm)
- HS trả lời chung chung, không rõ ý (0,5 điểm)
-Trả lời sai hoặc không trả lời (0 điểm)
Việc trả những đồng tiền lẻ cho thấy hoàn cảnh gia đình hai người rất
khó khăn, nghèo đói. Họ bòn mót, chắt chiu từng đồng để cho con ăn
học.
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời như đáp án hoặc sử dụng từ ngữ tương đương (1,0 điểm)
- Trả lời sai hoặc không trả lời (0 điểm)
Chi tiết trên có thể hiểu là: Mặc dù muốn ăn phở nhưng họ không có
tiền để ăn, họ dành tất cả tình thương cho hai người con, thiệt thòi đói
khát dành phần mình.
Hướng dẫn chấm:
-Trả lời như đáp án hoặc sử dụng từ ngữ tương đương (1,0 điểm)
0.5
0.5
0.5
1,0
1,0
1,0
7
8
II
-Trả lời sai hoặc không trả lời (0 điểm)
Học sinh đưa ra suy nghĩ và hạnh động của mình một cách phù hợp
với đạo đức, cách hành xử văn minh.
Hướng dẫn chấm:
- HS nêu được quan điểm, cách ứng xử phù hợp (0,5 điểm)
- Lí giái thuyết phục, hợp lí (0,5 điểm)
-Học sinh đưa ra được thông điệp có ý nghĩa với bản thân, đảm bảo
phù hợp với đạo đức, lối sống tích cực, nhân văn.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh nêu được thông điệp (0,5 điểm)
- HS không nêu được thông điệp (0,0 điểm)
VIẾT
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài
khái quát được vấn đề
b. Xác định đúng yêu cầu của đề.
Những nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Bát
phở.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể viết bài nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lí lẽ và dẫn
chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm; đảm bảo các
yêu cầu sau:
- Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm.
- Về nội dung:
+ Tác phẩm kể về cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa người kể chuyện và hai
cặp cha con trong một quán phở. Họ là những người dân quê chất
phác đưa chon đi thi đại học.
+ Qua quan sát và suy ngẫm của người kể chuyện, họ hiện lên là
những người nghèo nhưng giàu tình cảm. Hai người cha dành tiền
lặn lội đưa con đi thi; dành những đồng tiền ít ỏi để mua cho con bát
phở. Hai người con cũng hiểu và đồng cảm với những khó khăn của
cha
- Về nghệ thuật: câu chuyện không dài, ít chi tiết và tình tiết, kết
thúc còn để ngỏ nhưng gợi mở nhiều suy nghĩ cho người đọc; ngôn
ngữ chân thực, gần gũi; giọng điệu cảm thông, suy tư.
- Đánh giá giá trị tư tưởng của đoạn trích: Truyện đã phản ánh chân
thực tình cảnh và những khát vọng đổi đời của những học sinh xuất
thân từ làng quê nghèo và những kì vọng của gia đình họ.
Hướng dẫn chấm:
- Bài viết đầy đủ, sâu sắc, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết
phục: 2,0 điểm.
- Bài viêt chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 1,0 điểm – 1,75 điểm.
- Trình bày chung chung, sơ sài: 0,25 điểm – 0,75 điểm
d. Chính tả, ngữ pháp
1,0
0,5
4.0
0.5
0.5
2.0
0.5
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi
chính tả, ngữ pháp.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách 0.5
diễn đạt mới mẻ.
Tổng điểm
10.0
TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN KỶ
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I NĂM HỌC 2023 - 2024
MÔN: NGỮ VĂN, LỚP 10
Thời gian làm bài: 90 phút, không tính thời gian phát đề
I. MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA
- Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình môn
Ngữ văn lớp 10.
- Đề kiểm tra bao quát một số nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình Ngữ
văn 10 theo các nội dung Đọc hiểu và Làm văn, với mục đích đánh giá năng lực đọc – hiểu và
tạo lập văn bản của HS thông qua hình thức kiểm tra tự luận.
- Cụ thể, đề kiểm tra nhằm đánh giá trình độ học sinh theo các chuẩn sau:
Kiến thức đọc – hiểu một văn bản, kĩ năng làm bài văn nghị luận.
II. HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA
- Hình thức : tự luận.
- Cách tổ chức kiểm tra: Học sinh làm bài trong 90 phút
III. THIẾT LẬP MA TRẬN
MA TRẬN, BẢNG ĐẶC TẢ VÀ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
MÔN NGỮ VĂN – LỚP 10
TT
1
2
Kĩ
năng
Đọc
hiểu
Viết
Nội dung/đơn vị kĩ
năng
Truyện hiện đại
Viết văn bản nghị
luận phân tích, đánh
giá tác phẩm truyện
Tỉ lệ điểm từng loại câu hỏi
Tỉ lệ điểm các mức độ nhận thức
Tổng % điểm
Nhận
biết
(Số câu)
TN
TL
KQ
0
3
0
1*
0
30 0% 30
%
%
30%
40%
70%
0
0%
1*
Mức độ nhận thức
Thông
Vận
hiểu
dụng
(Số câu)
(Số câu)
TN
TN
TL
TL
KQ
KQ
0
3
0
1
0
1*
Vận
dụng cao
(Số câu)
TN
TL
KQ
0
1
0
Tổng
%
điểm
60
1
40
10
0
10
%
%
20%
10%
30%
100
IV. BẢNG ĐẶC TẢ KĨ THUẬT ĐỀ KIỂM TRA.
TT
1
Kĩ
năng
Đơn vị
kiến
thức/Kĩ
năng
1. Đọc Truyện
hiểu
.
Mức độ đánh giá
Số câu hỏi theo mức độ nhận
thức
Nhận Thông
Vận
Vận
biết
hiểu
Dụng
dụng
cao
Nhận biết:
3 câu
1 câu 1 câu
- Nhận biết lời kể, ngôi kể, lời
TL
Tl
TL
người kể chuyện và lời nhân vật.
- Nhận biết đề tài, không gian, thời
gian, chi tiết tiêu biểu trong truyện.
- Nhận biết được những đặc điểm
của nhân vật, cốt truyện, câu
chuyện trong tác phẩm truyện.
- Nhận biết được bối cảnh lịch sử văn hóa được thể hiện trong văn
bản truyện.
Thông hiểu:
- Tóm tắt được cốt truyện và lí giải
được ý nghĩa, tác dụng của cốt
truyện.
- Phân tích được các chi tiết tiêu
biểu, đề tài, câu chuyện và lí giải
được mối quan hệ giữa các yếu tố
này trong tính chỉnh thể của tác
phẩm.
- Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của
việc lựa chọn lời kể, ngôi kể, điểm
nhìn trong tác phẩm.
- Phân tích, đánh giá được đặc điểm
của nhân vật và vai trò của nhân vật
trong tác phẩm.
- Xác định được chủ đề, tư tưởng
của tác phẩm; chỉ ra được những
căn cứ để xác định chủ đề, tư tưởng
của tác phẩm.
- Phát hiện và lí giải các giá trị đạo
đức, văn hóa từ văn bản.
- Giải thích được ý nghĩa, tác dụng
của các biện pháp nghệ thuật xây
dựng nhân vật.
Vận dụng:
- Rút ra được bài học về cách nghĩ,
cách ứng xử do văn bản gợi ra.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động
của tác phẩm đối với tình cảm,
quan niệm, cách nghĩ của bản thân
trước một vấn đề đặt ra trong đời
sống hoặc văn học.
2
Viết
Vận dụng cao:
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử - văn hoá được thể
hiện trong văn bản để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của văn bản.
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
thông điệp, chi tiết, hình tượng,
những đặc sắc về nghệ thuật trong
tác phẩm theo quan niệm của cá
nhân.
- Liên hệ để thấy một số điểm gần
gũi về nội dung giữa các tác phẩm
truyện thuộc những nền văn học
khác nhau.
Viết văn Nhận biết:
1*
bản
- Giới thiệu được đầy đủ thông tin
nghị
chính về tên tác phẩm, tác giả, thể
luận
loại,… của tác phẩm.
đánh giá - Trình bày được những nội dung
tác
khái quát của tác phẩm văn học.
phẩm
Thông hiểu:
truyện. - Triển khai vấn đề nghị luận thành
những luận điểm phù hợp. Phân
tích được những đặc sắc về nội
dung, hình thức nghệ thuật và chủ
đề của tác phẩm.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng
để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi
luận điểm.
- Đảm bảo cấu trúc của một văn
bản nghị luận; đảm bảo chuẩn
chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dụng:
- Nêu được những bài học rút ra từ
tác phẩm.
- Thể hiện được sự đồng tình /
không đồng tình với thông điệp của
tác giả (thể hiện trong tác phẩm).
Vận dụng cao:
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
nội dung và hình thức tác phẩm.
- Thể hiện rõ quan điểm, cá tính
trong bài viết; sáng tạo trong cách
diễn đạt.
V. BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA
1*
1*
1
câuTL
SỞ GD&ĐT THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN KỶ
ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I - NĂM HỌC 2023-2024
MÔN: NGỮ VĂN 10
Thời gian: 90 phút (không kể thời gian phát đề)
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
BÁT PHỞ
Bạn có bao giờ, khi đang ngồi trong một hàng phở, và đặt ra câu hỏi: có gì lạ với bát
phở của người kế bên mình? Ông chủ quán - đứng giữa hai cái bếp than rừng rực cháy, hai
cái nồi nước sùng sục sôi và chỉ có mỗi cái khăn cháo lòng vắt vai để vuốt đi những lượt mồ
hôi nhễ nhại - hẳn sẽ nổi xung lên. Cũng nước phở sóng sánh. Bánh cũng mềm, thơm, đảm bảo
không formon. Thịt bò vừa chín tới. Thêm vài giọt chanh vắt vào. Hành chần tới độ, không
hăng mà vẫn giòn, ngọt. Có làm đến trăm bát, đảm bảo bát nào chất lượng cũng giống nhau
hết, không ai thiệt hơn ai.
Vậy sao tôi vẫn không kìm được mình, để khỏi nhìn sang bát phở bên cạnh. Hai cậu học
trò gầy guộc, khuôn mặt hơi ngơ ngác. Một trắng xanh, một ngăm ngăm đen. Bên cạnh mỗi
cậu là một người cha. Họ lặng lẽ ăn, trong khi những người cha lặng lẽ ngồi đốt thuốc, mắt lơ
đãng nhìn ra phố xá. […]
Hai người cha hẹn nhau ngày mốt, lúc thi xong thì cùng đến chỗ ấy, chỗ kia để về quê.
Hóa ra, họ đang đưa hai con lên Hà Nội thi đại học. Ngày mai, kỳ thi bắt đầu. Hẹn xong, họ
cùng đứng lên. Rồi đi xuôi xuống phố, qua quán phở, chỗ tôi đang ngồi ăn. Bỗng nhiên, đoàn
bốn người ấy dừng lại. Phân vân. Người cha hỏi con điều gì đó. Rồi hai ông bố trao đổi với
nhau. Mất chừng vài phút.
Và họ cùng quay lại chỗ quán phở. Ngồi xuống chiếc bàn nhựa cập kênh, kế bên tôi.
Thằng nhỏ chạy bàn đi tới, lạch xạch lau vài ba đường trên cái mặt bàn xin xỉn, nhờn mỡ,
đoạn hỏi: “Bác ăn gì?” Cả bốn người họ nhìn sang tôi, nhìn sang những bàn khác, rồi tần
ngần nhìn tới nhìn lui cái biển ghi trên cửa quán.
“Phở bò nhé? Tái hay chín?”, “Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé?”
Hai cậu con nhè nhẹ gật đầu: “Vâng, gì cũng được”. “Thế thì cho hai phở bò chín. Hai
trứng”
Thằng nhỏ chạy bàn vo cái khăn trong tay, tần ngần nhìn bốn người, ý chừng như
muốn hỏi: “Sao bốn người mà chỉ có hai bát?”
Nó chạy ra chỗ ông chủ quán, chỏng lỏn: “Hai bò!”
Ông chủ quán lăn cái khăn màu cháo lòng qua vuông mặt đỏ lựng vì lửa than, rồi vắt
trả cái khăn về bên vai, tay dao tay thớt nhoay nhoáy. Trong tích tắc, hai bát phở sóng sánh
được bê ra, đặt trịnh trọng trên bàn.
“Chúng mày ăn đi!”. Một trong hai người cha lên tiếng. Đoạn hai ông kéo xích cái ghế
ra ngoài một chút, thì thầm nói chuyện với nhau. Đại loại ba cái chuyện mùa màng, bò đẻ, vải
thiều sụt giá... Rồi tới nữa là chuyện phòng trọ trên này sao đắt chi mà đắt. Sáng mốt ngủ dậy,
mình phải trả phòng luôn, không là họ tính thêm một ngày nữa. Mình đợi chúng nó ngoài
phòng thi, thi xong thì ra bến xe về luôn. Cần thì mua mấy tấm bánh mì, lên xe ăn tạm. Về đến
quê rồi, chúng nó thích ăn gì, tha hồ ăn. Chứ trên này, chậc... chậc. […]
Trong khi ấy, hai cậu con vẫn cặm cụi với bát phở của mình. Chúng không nói gì.
Không cả dám khen một câu đại loại: “Phở ở đây ngon quá”. Hàng phở này ngon thật. Tôi
vốn rành ăn phở, những quán thế này không thật nhiều. Nhưng vì sao chúng không hồ hởi mà
thốt ra một câu như thế?
Và tôi, không kìm nén được mình, cứ hướng sang phía bốn con người ấy. Bốn con
người ngồi lặng một góc giữa cái quán ồn ã. Người cha sẽ đợi những đứa con của mình ăn
đến tận thìa nước cuối cùng, rồi lẳng lặng moi cái ví bằng vải bông chần màu lam cất trong
ngực áo ra. Ông sẽ phải đếm một lúc những tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn để sao cho
đủ ba mươi nghìn đồng, trả cho hai bát phở. Ông - một tích tắc nào đó - dẫu có bị quyến rũ
bởi cái mùi nước phở đang cất lên ngào ngạt kia, cũng chỉ dám nuốt nước miếng mà thôi. Sẽ
là một đĩa cơm suất ven đường, ít thịt, nhiều rau, xin thêm miếng cháy cho chắc dạ. Cũng vào
cỡ năm, bảy nghìn đồng chứ ít ỏi gì.
Hai cậu con trai lặng lẽ bên những người cha. Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi
ví của cha. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Những kỳ thi, những
nẻo đường còn ngổn ngang phía trước...
(Phong Điệp, Kẻ dự phần, Nhà xuất bản Văn học, 2008, tr.43,44)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Bối cảnh của câu chuyện diễn ra trong không gian nào?
Câu 3. (0,5 điểm) Ở đoạn đầu câu chuyện, món phở được người kể chuyện miêu tả như thế
nào?
Câu 4. (1,0 điểm) Theo bạn, tại sao hai cậu con trai không nói gì khi ăn phở?
Câu 5. (1,0 điểm) Việc hai người cha trả những đồng tiền lẻ cho thấy tình cảnh gì ở họ?
Câu 6. (1,0 điểm) Bạn hiểu như thế nào về chi tiết sau:“Ông - một tích tắc nào đó - dẫu có bị
quyến rũ bởi cái mùi nước phở đang cất lên ngào ngạt kia, cũng chỉ dám nuốt nước miếng mà
thôi”.
Câu 7. (1,0 điểm) Nếu bạn là người con trong câu chuyện trên, bạn sẽ suy nghĩ và hành động
như thế nào khi thấy người cha không ăn phở? Vì sao?
Câu 8. (0,5 điểm) Qua đoạn trích trên, bạn hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa với bản thân.
II.LÀM VĂN (4,0 điểm)
Viết một bài luận (khoảng 500 - 800 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật
đoạn trích Bát phở của nhà văn Phong Điệp (được dẫn ở trên).
........................................Hết.......................................
Học sinh không được sử dụng tài liệu, giám thị không giải thích gì thêm.
Phong Điệp là một cây bút trẻ với sức sáng tạo dồi dào của văn học Việt Nam đương đại. Nhà văn Phong
Điệp sinh ngày 6 tháng 6 năm 1976 tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Phong Điệp viết văn từ rất sớm,
thành công trên nhiều thể loại, trong đó nổi bật nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết, xuất bản hơn 30 đầu sách
(trong và ngoài nước). Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Phong Điệp phải kể đến như Khi ta hai mươi
(tập truyện ngắn), Kẻ dự phần (tập truyện ngắn), Blogger (tiểu thuyết), Ga kí ức (tiểu thuyết),…
SỞ GD & ĐT THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG THPT TRẦN VĂN KỶ
KIỂM TRA CUỐI KÌ I NĂM HỌC 2023 - 2024
MÔN: NGỮ VĂN, LỚP 10
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
MÔN NGỮ VĂN, LỚP 10
Phần Câu
I
1
2
3
4
5
6
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỂU
6.0
Ngôi kể thứ nhất.
Hướng dẫn chấm:
- HS trả lời như đáp án (0,5 điểm)
- HS trả lời sai hoặc không trả lời (0,0 điểm)
Không gian: quán phở.
Hướng dẫn chấm:
- HS trả lời như đáp án (0,5 điểm)
- HS trả lời sai hoặc không trả lời (0,0 điểm)
Món phở được miêu tả: nước phở sóng sánh. Bánh cũng mềm,
thơm, đảm bảo không formon. Thịt bò vừa chín tới. Thêm vài giọt
chanh vắt vào. Hành chần tới độ, không hăng mà vẫn giòn, ngọt.
Hướng dẫn chấm:
- HS trả lời như đáp án (0,5 điểm)
- HS trả lời sai hoặc không trả lời (0,0 điểm)
Hai người con không nói gì khi ăn phở, vì:
- Hai người con đang trong hoàn cảnh đói bụng, thưởng thức hương
vị thơm ngon của món phở;
- Đồng thời, hai người con còn thương cha, không dám nói điều gì.
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời như đáp án hoặc sử dụng từ ngữ tương đương hoặc diễn
đạt khác nhưng thuyết phục, phù hợp (1,0 điểm)
- HS trả lời chung chung, không rõ ý (0,5 điểm)
-Trả lời sai hoặc không trả lời (0 điểm)
Việc trả những đồng tiền lẻ cho thấy hoàn cảnh gia đình hai người rất
khó khăn, nghèo đói. Họ bòn mót, chắt chiu từng đồng để cho con ăn
học.
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời như đáp án hoặc sử dụng từ ngữ tương đương (1,0 điểm)
- Trả lời sai hoặc không trả lời (0 điểm)
Chi tiết trên có thể hiểu là: Mặc dù muốn ăn phở nhưng họ không có
tiền để ăn, họ dành tất cả tình thương cho hai người con, thiệt thòi đói
khát dành phần mình.
Hướng dẫn chấm:
-Trả lời như đáp án hoặc sử dụng từ ngữ tương đương (1,0 điểm)
0.5
0.5
0.5
1,0
1,0
1,0
7
8
II
-Trả lời sai hoặc không trả lời (0 điểm)
Học sinh đưa ra suy nghĩ và hạnh động của mình một cách phù hợp
với đạo đức, cách hành xử văn minh.
Hướng dẫn chấm:
- HS nêu được quan điểm, cách ứng xử phù hợp (0,5 điểm)
- Lí giái thuyết phục, hợp lí (0,5 điểm)
-Học sinh đưa ra được thông điệp có ý nghĩa với bản thân, đảm bảo
phù hợp với đạo đức, lối sống tích cực, nhân văn.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh nêu được thông điệp (0,5 điểm)
- HS không nêu được thông điệp (0,0 điểm)
VIẾT
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài
khái quát được vấn đề
b. Xác định đúng yêu cầu của đề.
Những nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Bát
phở.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể viết bài nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lí lẽ và dẫn
chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm; đảm bảo các
yêu cầu sau:
- Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm.
- Về nội dung:
+ Tác phẩm kể về cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa người kể chuyện và hai
cặp cha con trong một quán phở. Họ là những người dân quê chất
phác đưa chon đi thi đại học.
+ Qua quan sát và suy ngẫm của người kể chuyện, họ hiện lên là
những người nghèo nhưng giàu tình cảm. Hai người cha dành tiền
lặn lội đưa con đi thi; dành những đồng tiền ít ỏi để mua cho con bát
phở. Hai người con cũng hiểu và đồng cảm với những khó khăn của
cha
- Về nghệ thuật: câu chuyện không dài, ít chi tiết và tình tiết, kết
thúc còn để ngỏ nhưng gợi mở nhiều suy nghĩ cho người đọc; ngôn
ngữ chân thực, gần gũi; giọng điệu cảm thông, suy tư.
- Đánh giá giá trị tư tưởng của đoạn trích: Truyện đã phản ánh chân
thực tình cảnh và những khát vọng đổi đời của những học sinh xuất
thân từ làng quê nghèo và những kì vọng của gia đình họ.
Hướng dẫn chấm:
- Bài viết đầy đủ, sâu sắc, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết
phục: 2,0 điểm.
- Bài viêt chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 1,0 điểm – 1,75 điểm.
- Trình bày chung chung, sơ sài: 0,25 điểm – 0,75 điểm
d. Chính tả, ngữ pháp
1,0
0,5
4.0
0.5
0.5
2.0
0.5
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi
chính tả, ngữ pháp.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách 0.5
diễn đạt mới mẻ.
Tổng điểm
10.0
 





